Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013
BÀI CHÉP TỪ BLOG QUÊ CHOA
Tướng Giáp và hậu duệ: Chuyện bây giờ mới kể
![]() |
| Gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu) |
Đằng sau ánh hào quang của chiến
trận oai hùng, người ta vẫn gặp một “anh Văn” rất thương vợ, yêu con.
Con cháu tướng Giáp đều là những người giỏi giang.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu với bà Nguyễn
Thị Quang Thái (em gái nhà yêu nước Nguyễn Thị Minh Khai) năm 1934. Bà
Quang Thái trở thành liệt sỹ và để lại một người con gái là Võ Hồng Anh.
Bà Võ Hồng Anh được phong học hàm Giáo sư. Bà công tác
tại nhiều Viện, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, được mời thỉnh giảng,
trao đổi nghiên cứu, dự hội nghị khoa học ở nhiều quốc gia.
Năm 1946, đại tướng Võ Nguyên Giáp tái hôn với giáo sư Đặng Bích Hà, con gái của giáo sư Đặng Thai Mai.
Hai người con gái là Võ Hòa Bình (SN 1951) và Võ Hạnh
Phúc (1952), từng là Ủy viên Hội đồng quản trị Tập đoàn HIPT. Người con
trai trưởng Võ Điện Biên (1954), hiện là Giám đốc Công ty CP Đông Sơn.
Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), hiện là Giám đốc Công ty CP Máy tính
Truyền thông Hồng Nam.
Hai đời vợ và 5 người con
Xuất thân là một giáo viên dạy sử, nhà báo, ông trở thành một
chính trị gia và tướng lĩnh quân sự nổi bật trong lịch sử Việt Nam với
các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu với bà Nguyễn Thị
Quang Thái (em gái nhà yêu nước Nguyễn Thị Minh Khai) năm 1934. Bà Quang
Thái trở thành liệt sỹ và để lại một người con gái là Võ Hồng Anh.
Mẹ mất, bà Anh sống với ông bà nội mãi đến năm 1946 mới gặp
lại cha, bấy giờ là là một lãnh đạo cao cấp. Toàn quốc kháng chiến nổ
ra, chiến sự lan dần đến Quảng Bình, bà được bà nội đưa đi sơ tán tại
Thanh Chương, Nghệ An.
Năm 1951, bà được gặp lại cha lần thứ hai. Sau đó, bà được
chính phủ bố trí đưa sang học tại Quế Lân và Khu học xá Nam Ninh, Trung
Quốc.
Năm 1954, bà được đưa sang Liên Xô theo học Trường Thiếu nhi
Việt Nam Internat Moskva. Năm 1959, bà tốt nghiệp Phổ thông với Huy
chương vàng.
Sau đó, bà theo học ngành Vật lý lý thuyết lượng tử, Đại học
Tổng hợp Quốc gia Lomonosov Moskva. Bà tốt nghiệp năm 1965 với bằng đỏ
(hạng ưu).
Tốt nghiệp, bà về nước và được phân công làm cán bộ nghiên
cứu thuộc Ban Toán – Lý, Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước rồi sang Liên
Xô bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Toán – Lý rồi làm việc tại
Viện Liên hợp Nghiên cứu hạt nhân Quốc tế Dubna và được phong học hàm
Giáo sư.
Năm 1987, bà về nước kinh qua nhiều vị trí tại các viện,
trung tâm năng lượng, vật lý. Giáo sư Võ Hồng Anh qua đời vào năm 2009
vì bệnh tật.
Trong suốt gần 40 làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa
học, bà được mời thỉnh giảng, trao đổi nghiên cứu, dự hội nghị khoa học
ở: Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, các nước Đông Âu, Ý, Ấn Độ, Thái Lan,
Malaisia…
Bà cũng đã cho xuất bản trên 50 công trình khoa học được công
bố, phần lớn ở nước ngoài, trong số đó có cuốn sách về Lý thuyết tương
tác của bức xạ cường độ mạnh lên chất rắn – xuất bản ở Nga. Năm 1988, bà
là người phụ nữ đầu tiên của ngành Vật lý được tặng Giải thưởng Khoa
học Quốc tế Kovalevskaia – giải thưởng cao nhất của Việt Nam về khoa học
kỹ thuật dành cho các nhà khoa học nữ.
| Đại gia đình của Đại tướng tại sở chỉ huy Mường Phăng, ngày 19.4.2004 (ảnh Nguyễn Đình Toán) |
Bà Anh nhiều lần kể chuyện về cha mình, những kỉ niệm từ lúc
ấu thơ đến những ngày cuối đời. Lúc nào bà cũng ghi khắc hình ảnh của
một người cha hiền lành, nhất mực yêu thương con gái.
Năm 1946, đại tướng Võ Nguyên Giáp tái hôn với giáo sư Đặng
Bích Hà, con gái của giáo sư Đặng Thai Mai. Ông bà có 4 người con, 2 gái
và 2 trai, tất cả đều giỏi giang và thành đạt.
Hai người con gái là Võ Hòa Bình (SN1951) và Võ Hạnh Phúc (1952), hiện là Ủy viên Hội đồng quản trị Tập đoàn HIPT.
Người con trai trưởng của đại tướng được ông đặt tên Võ Điện Biên (1954), hiện là Giám đốc Công ty CP Đông Sơn.
Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), hiện là Giám đốc Công ty CP Máy tính Truyền thông Hồng Nam.
Một gia đình ngưỡng vọng
Không chỉ là một vị tướng tài danh, đại tướng Võ Nguyên Giáp
còn là người ông, người cha hết lòng vì con cháu, sống giản dị và gần
gũi với mọi người.
Bà Mạc Thúy Hường – con dâu Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vợ cậu
con trai út Võ Hồng Nam – khóc khi chia sẻ: “Tôi gần gũi với ba Giáp còn
hơn bố đẻ vì bố tôi mất từ trước khi tôi lấy chồng. Tôi sống với ba đã
hơn 30 năm. Ba là người rất tuyệt vời, yêu vợ và các con, các cháu. Với
tôi, ba luôn coi như con gái”.
Người con dâu nghẹn ngào nói rằng bà thường xuyên chăm chút
khu vườn vì ba Giáp thích cây cối, chim muông: “Tôi trồng cây, làm hồ
cá, chăm sóc phong lan… nhưng giờ ba đâu còn để ngắm nữa”, bà Hường
nghẹn lời.
Tướng Giáp luôn đặt tên con cháu theo ước vọng về đất nước.
Người con trai Võ Điện Biên được lấy tên theo sự kiện lịch sử 1954. Hai
con gái Võ Hòa Bình, Võ Hạnh Phúc thể hiện mơ ước về ngày hạnh phúc của
đất nước. Người con út Võ Hồng Nam là niềm mong ước một miền Nam rực cờ
hồng.
Hai con của Võ Hồng Nam được đặt tên là Võ Hoài Nam – nhớ
mong miền Nam và Võ Thành Trung như lời thề nguyền tận trung với nước.
Hoài Nam và Thành Trung được cha dạy võ từ năm 3 tuổi theo truyền thống
con nhà võ nên khi lớn lên đều trở thành những thanh niên cường tráng.
Sinh thời, tướng Giáp luôn canh cánh tâm nguyện giúp đỡ con
em các vùng chiến khu nghèo khó. Con cháu ông, đặc biệt là con út Võ
Hồng Nam, thường làm từ thiện âm thầm không trống giong cờ mở, với sự
giúp đỡ của bạn bè doanh nghiệp.
Ông Tấn Định, gọi tướng Giáp bằng cậu, kể Đại tướng là người
vĩ đại khi ra ngoài xã hội nhưng trong gia đình lại rất tự nhiên, gần
gũi và tình cảm như một người ông, người bác bình thường,rất quan tâm
đến chuyện trường lớp của các cháu. Ông Định ra ở cùng tướng Giáp khi đã
vào quân ngũ. Mỗi lần gặp cháu, tướng Giáp lại ân cần hỏi han chuyện
đơn vị, vợ con.
“Ông là một người lính thực thụ, luôn đề cao kỷ luật quân
đội. Tuy nhiên với con cháu, ông có cách dạy rất nhẹ nhàng. Chưa bao giờ
thấy ông nặng lời quát mắng, chỉ nghiêm mặt nói là tất cả đã nghe theo
răm rắp”, ông Định nhớ lại.
Tướng Giáp còn là người nặng tình, nặng nghĩa. Trong nhà ông
trưng bày rất nhiều kỷ vật về bà Quang Thái – người vợ đầu đã hy sinh –
để nhắc nhở các thành viên gia đình không được quên bà.
Ngày 27/7, giỗ, tết là dịp cả gia đình cùng tưởng nhớ bà
Quang Thái. Khi vẫn còn đi lại được, tướng Giáp thường cùng người vợ sau
là phó giáo sư Bích Hà lên nghĩa trang Mai Dịch, bất kể nắng mưa, để
nhổ cỏ, lau mộ, thắp hương cho bà Thái.
Trong hồi ký của mình, ông Tấn Định miêu tả một lần gia đình
tướng Giáp thăm lại nơi giam giữ bà Quang Thái: “Hằng năm, cứ vào tiết
thanh minh là cả nhà lại cùng cậu tôi lên Nghĩa trang Mai Dịch viếng mộ
người thân, trong đó có mộ mợ Quang Thái…
Lần này, cậu tôi muốn thăm Nhà lao Hỏa Lò trước khi viếng mộ ở
Mai Dịch… Cậu tôi đề nghị tất cả cùng chụp ảnh kỷ niệm ngay tại khoảnh
sân dưới chân Đài tưởng niệm… Sau ít phút, chúng tôi đã có mặt trước cửa
phòng biệt giam các nữ tù chính trị.
Theo lời giới thiệu của chị Dơn (hướng dẫn viên) thì mợ Quang
Thái từng bị giam cầm tại căn phòng này… Trong lúc mợ Hà đang lúng túng
cài những bông hồng đỏ lên khe nhỏ của các cánh cửa sắt, cậu tôi vẫn
đứng im phăng phắc, mắt dõi nhìn về phía bệ xi măng bên trong phòng biệt
giam như đang kiếm tìm một bóng hình thân thuộc…”.
Ông Định viết tiếp: “Cậu tôi đứng đó, tay phải vịn lên mép
cửa sổ của cánh cửa sắt, tay trái cậu như đang lần tìm thứ gì ở trong
túi của áo khoác ngoài. Tôi đoán là cậu đang tìm chiếc khăn mùi xoa mà
trước khi lên xe mợ Hà đã cẩn thận đặt vào đó, và cuối cùng tôi đã tìm
được chiếc khăn ở túi áo bên kia đặt vào tay cậu. Cậu tôi cầm lấy chiếc
khăn, rồi từ từ đưa lên thấm khô những giọt nước mắt vừa trào ra từ đôi
mắt già nua đang nhòe ướt… Bỗng cậu tôi đứng thẳng người lên, bỏ chiếc
mũ len xuống cầm tay, và đầu hơi cúi xuống. Tất cả không ai bảo ai đều
tề chỉnh đứng nghiêm và cúi đầu tưởng niệm. Chị Hồng Anh quay sang định
nói gì đó với cậu tôi, nhưng mãi chị không nói được thành lời”…
Còn nhiều chứng nhân khác nói về đại tướng. Những câu chuyện
dài và xúc động. Tất cả đều bật lên một con người hiền lành, giàu tình
cảm. Đại tướng đã ra đi, nhưng ông kịp để lại cho đời lớp hậu duệ đáng
để người ta kính phục, ngưỡng vọng.
Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013
BÀI TRÊN TRANG HÀNG XÓM,LÁNG GIỀNG
Biểu tượng dân tộc: Niềm tin và giá trị
Nguyễn Trung Kiên
Ở Việt Nam, chúng ta đang ở vào một thời buổi loạn giá trị, thiếu
chân giá trị định hướng. Cái sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991 là
đòn giáng mạnh vào hệ giá trị mà những người đảng viên Cộng sản đang
theo đuổi. Hình ảnh người bố nghe đài, bỏ đôi đũa xuống, đôi mắt nhìn
xa xăm và trống trải mà đứa bạn tôi kể còn in đậm trong tâm trí tôi, làm
tôi tin rằng, họ đã bị mất một chỗ dựa quan trọng cho chân giá trị của
mình. Rồi những người dân ngày nay, đằng sau những vất vả mưu sinh, họ
lại dần dần bị tước mất niềm tin vào tập thể, bởi những tham nhũng,
nhiêu khê trong bộ máy hành chính, hay những gian lận trong giáo dục,
những dối trá trong y tế, hay sự thiếu hụt của các trợ cấp và an ninh
xã hội v.v. Tất cả xói mòn niềm tin của dân chúng. Tất cả đẩy dân chúng
vào cái nhìn bi quan đối với con người, với xã hội. Tất cả đặt họ vào
tình huống phải tự tìm cho mình một chân giá trị để tin tưởng, để đi
theo.
Và giới trẻ như chúng tôi lớn lên trong cái thời ‘quá độ’ – cái thời
mà chúng ta đã rời bến này nhưng còn lênh đênh, phiêu dạt ở đâu đó trên
con sông lịch sử, để rồi chưa biết khi nào thì đến được một bến bờ nào
rõ ràng và hạnh phúc. Với lớp trẻ, khi những lớp người đi trước lúng
túng trong định hướng chân giá trị cho chính bản thân họ, thì chúng tôi
cũng rơi vào một mớ hỗn độn và mơ hồ những giá trị thật giả, đúng sai
hoặc nửa sai nửa đúng. Cũng có người may mắn tìm được giá trị đúng đắn
để sống cuộc đời có ý nghĩa, những cũng có người thì bỏ mặc cho dòng đời
xô đẩy hoặc bị dẫn dắt bởi người khác, có người trở nên chán nản, đau
khổ, và cũng có người lựa chọn sống cuộc sống tiêu cực ngoài vòng pháp
luật. Không có gì lạ khi mà những vụ giết người, cướp của, hiếp dâm, lừa
đảo, buôn bán thuốc phiện, hút chích đang trở nên phổ biến trong xã
hội, đặc biệt là giới trẻ. Cũng có người may mắn được đi học ở nước
ngoài và đã, đang tiếp thu những giá trị mới. Nhưng cũng có người an
phận sống cho riêng mình, cũng có người quay sang chê bai, chửi bới,
châm biếm, đả kích những ‘căn bệnh’ đang tồn tại trong đất nước và dân
tộc của họ. Nhưng số quay lại đóng góp cho đất nước, vì dân tộc thì
không hề nhiều. Đừng quá trách chúng tôi! Chúng tôi đang loạn giá trị,
loạn niềm tin và chúng tôi đang tìm kiếm câu trả lời: Tin cái gì? Chọn
cái gì? Theo cái gì? Sống thế nào? là những câu hỏi thể hiện sự rối loạn
định hướng giá trị của đa số tuổi trẻ chúng tôi. Mà tuổi trẻ loạn thì
nguyên nhân gốc rễ chính là từ xã hội loạn.
***
Chúng ta thường nói đến từ ‘dân tộc’, ‘tính dân tộc’, ‘tinh thần dân
tộc’, ‘lòng yêu nước’, hay những từ ‘to lớn’ khác, nhưng ít khi chúng ta
cảm nhận được nó. Có ai bảo ta rằng: Mày sống vì nhân dân, vì dân tộc
một tí! Chắc mình sẽ bảo sao mày nói gì to tát thế! Quả thực, dân tộc,
với tư cách là một tập thể, một nhóm rất lớn, hiện diện rất mông lung và
xa vời trong đời sống thường nhật. Cũng như ta hay hỏi: nhân dân làm
chủ, nhưng nhân dân là ai? là tất cả, nhưng cũng chẳng là ai cả? Dân tộc
cũng là tất cả, nhưng cũng chẳng là ai, bởi vì nó là một tập thể không
có ranh giới và hình thù rõ ràng. Nó chỉ hiện diện hết sức vô hình và
thường bị những chuyện đời sống nhỏ nhặt, từ vợ chồng, con cái, tới tiền
nong, chợ búa, cho tới những thứ to tát hơn như sự nghiệp, công danh,
quyền lực, địa vị lấn át và chi phối. Cũng có thể, cái tinh thần tập thể
đó bị phủ mờ hay bị khoá chặt bên trong bởi những cảm xúc hay kinh
nghiệm cá nhân đối với tập thể, nó tạo thành cảm giác rằng bản thân mình
hoặc tách rời tập thể, hoặc chán ghét cái tập thể đó. Và khi tự cho
mình nằm ngoài cái tập thể đó, làm sao có thể xuất hiện ý chí tập thể?
Do đó, nếu không có một biến cố lịch sử hay một sự kiện chính trị – xã
hội nào đó có tầm quan trọng to lớn, đặt mọi người trên một mẫu số
chung, thì sẽ chẳng hy vọng nào kéo từng cá nhân thoát ra khỏi vòng xoắn
của những âu lo đời thường để quan tâm tới những gì vĩ đại cho cả cộng
đồng.
Tôi đã từng cảm nhận được, một vài lần khi tinh thần dân tộc xuất
hiện và hiện hữu. Đó là lúc cảm xúc gia tăng đột biến, trào dâng, làm
cho bản thân hầu như bị chi phối bởi sức mạnh to lớn nào đó, một tinh
thần dám vượt qua những nông cạn và nhỏ nhặt cá nhân, để khiến mình làm
gì cũng được, kể cả phải chết. Một lần là lần đầu tiên tôi dự cuộc diễu
hành nhân ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 2005. Lúc đó tôi chứng kiến
hàng dài những người lính diễu binh, bước đi trong tiếng nhạc oai hùng.
Và vây quanh tôi, cả đám đông như nín thở chào đón họ. Một lần là khi
tôi và đám bạn hoà vào dòng người cổ vũ, ăn mừng cho chiến thắng của đội
bóng đá Việt Nam vô địch Đông Nam Á năm 2008. Khi đó, dường như tất cả
mọi người chia sẻ một tinh thần chung, là vui sướng, là tự hào, rồi để
là gắn kết giữa những người cùng chung một dân tộc. Lúc đó, cá nhân sẵn
sàng làm những chuyện vĩ đại, vượt qua sức mình vì tập thể.
***
Và đây, cái chết của Tướng Giáp không đơn giản chỉ là cái chết của
một con người, đúng hơn, nó là cái chết của một con người mang đầy giá
trị: giá trị của lịch sử, giá trị của dân tộc, giá trị của lòng yêu nước
và bản lĩnh người Việt. Mà các giá trị chân chính khi đã được tập hợp
lại bên trong một con người, nó đủ sáng để biến người đó trở thành biểu
tưởng. Nói không ngoa, Tướng Giáp là một biểu tượng rực sáng. Một biểu
tượng chuyên chở những giá trị cho phép số đông dân chúng tin tưởng,
sống chết vì nó. Một biểu tượng có thể khơi gợi được sợi dây vô hình nối
liền những cá nhân rời rạc và ích kỷ, và biến họ thành một khối thống
nhất, chia sẻ chung cảm xúc, suy nghĩ, ý chí và hành động. Lịch sử dân
tộc Việt Nam, dĩ nhiên đã từng trải qua những thời khắc mà cả dân tộc
cùng chung một ý chí. Có lẽ rõ ràng nhất là trong những thời khắc chiến
tranh như khi nhà Trần vận động dân chúng tổ chức vườn không nhà trống
chống quân Mông Cổ, hay khi huy động người dân góp sức tải lương thực và
vũ khí cho chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 hay tinh thần tất cả vì miền
Nam những năm thống nhất đất nước. Nhưng trong thời buổi hoà bình mà tạo
ra được sự gắn kết tập thể như trong chiến tranh, đó chỉ có thể sinh ra
từ những sự kiện đặc biệt, hoặc từ những biểu tượng đặc biệt.
Một tuần vừa trôi qua là một tuần ‘vĩ đại’ theo nghĩa nó đặc biệt hơn
mọi tuần khác trong một năm, thậm chí đặc biệt trong cả thế kỷ. Khi mà
cái chết của vị tướng anh hùng đã tạo nên một ‘cơn sóng thần’ những tin
tức dồn dập xuất hiện trên mạng Internet. Dòng thông tin khổng lồ sinh
ra, lưu chuyển liên tục đó, xuất phát từ mọi hình thức, từ báo chí mạng,
từ chính thức đến phi chính thức, tới các trang mạng xã hội và các
trang web và blog cá nhân, xuất phát từ mọi cấp độ, từ cá nhân tới các
nhóm xã hội và tới từ đa phần các tầng lớp trong xã hội. Tướng Giáp qua
đời đã dấy lên một ‘cơn bão’ dư luận xã hội: họ tìm kiếm, họ đọc, họ
nghe, rồi họ viết, họ chia sẻ, họ trải lòng, họ bàn luận, họ đánh giá,
họ suy ngẫm… Tất cả những hành động đấy đều xoay quanh con người và cuộc
đời của vị Tổng tư lệnh ‘lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu’. Nếu
Internet như một cỗ máy phát sóng kết nối tất cả những cá nhân riêng lẻ
từ khắp các chiều không gian và thời gian, thì Tướng Giáp là cốt lõi
tinh thần để vận hành cái máy đó. Một tuần qua, có cảm giác các tầng lớp
xã hội như những người dân làng đang quây quần quanh một cái bếp lửa
hồng để trò chuyện về sự ra đi của một già làng như thể đó là chuyện duy
nhất có ý nghĩa trong thời gian này.
Và đặc biệt hơn là chuyện những người dân đổ về Hà Nội, rồi lại dồn
về ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu để thắp nén nhang, kính viếng người tướng
đã ra đi. Và hôm nay là chuyện những người dân từ khắp nơi đổ ra đường
Hà Nội để đưa tiễn vị tướng ấy về nơi chôn rau cắt rốn của ông và những
người dân khắp nơi về Quảng Bình để mong dự cái giờ phút cuối cùng của
Đại tướng trước khi ông về với cát bụi. Tôi cảm thấy ngạc nhiên và sung
sướng! Dù tôi không được dự vào dòng người đến viếng và tiễn đưa Tướng
Giáp, nhưng qua những bài viết trên mạng Internet, tôi cũng có thể cảm
nhận được cái tinh thần ấy, cái cảm giác ấy, trong những khoảnh khắc ấy.
Cái cảm giác mà có vẻ như cuộc sống bon chen, cơm áo gạo tiền đầy cuốn
hút, vội vàng và ích kỷ - cái mà cuốn tất cả mọi người vào một vòng xoáy
đầy toan tính cá nhân – đã nhường chỗ cho một điều thiêng liêng hơn
mang tính cộng đồng rõ rệt. Có những người bạn tôi cảm giác rằng họ
chẳng bao giờ quan tâm đến những chuyện lớn lao của đất nước nhưng nay
họ là những người trăn trở đi viếng. Có những bạn trẻ mà tôi nghĩ họ
thích nhạc trẻ hay nhảy hiphop hơn là chuyện chính trị, nhưng các bạn đã
xếp hàng trong dòng người nối dài như bất tận vào viếng hay tiễn đưa
Đại tướng. Tóm lại, cái đám đông xuất hiện hướng về vị tướng đó – già
có, trẻ có, nam có, nữ có, ca sĩ có, nhạc sĩ có, nhà văn có, nhà báo có,
tướng lĩnh có, nông dân có, người Kinh có, người dân tộc thiểu số có, ở
xa có, ở gần có, nghèo có, giàu có v.v. – như một hình ảnh thu nhỏ của
một dân tộc.
Mấy năm nay, Tướng Giáp vẫn sống, nhưng ai cũng biết ông đã rất già,
rất yếu và có thể ra đi bất cứ lúc nào. Cái gì quý giá, nhưng chúng ta
biết chúng ta đang có nó, chúng ta cũng dễ quên đi, hoặc ít để ý. Con cá
sống trong nước cũng không biết nước quan trọng thế nào đối với
nó. Người ta sống dựa vào không khí, nhưng ít khi cảm nhận hay nhớ về
nó. Và rồi, chúng ta cứ an tâm rằng Tướng Giáp đang sống – và có khi
chúng ta đã lãng quên ông – chỉ đến khi cái chết thực sự đã đến với ông,
để cho chúng ta thấy giá trị của ông quan trọng như thế nào đối với dân
tộc Việt Nam. Chỉ đến lúc đó, chúng ta mới nhận ra rõ ràng rằng, cái
biểu tượng giá trị mà chúng ta cần cho sự phát triển của đất nước này là
cần thiết như thế nào. Chỉ đến lúc đó, những con người cá nhân, ích kỷ
chúng ta mới chợt thấy khắc khoải, bồi hồi, tiếc nuối, nhớ thương một
biểu tượng giá trị đã mất đi. Và thực sự, cái chết của Tướng Giáp là một
thử nghiệm lịch sử, cho thấy rằng té ra tinh thần dân tộc Việt Nam nó
không bao giờ chết, nó chỉ ẩn đi trong màu áo cuộc sống tầm thường và sẽ
trỗi dậy khi thời cơ tới.
Có người nói đó là dấu hiệu đánh dấu sự kết thúc của một thời đại.
Câu nói buồn man mác, song cũng có lý! Nhưng dù tranh luận như thế nào
đi nữa thì dân tộc Việt Nam cũng cần có những con người tiếp bước những
thế hệ như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, để tạo nên những biểu tượng
giá trị mới cho dân tộc tin theo. Đúng! Chúng ta thay vì than thở, hãy
đi xây dựng biểu tượng giá trị của thời đại mới!
ƯU TIÊN !
ƯU TIÊN & ƯU PHIỀN
Cái gì cũng xếp “hàng đầu”*
Thành ra chẳng có cái nào ưu tiên
Ưu tiên lại hóa ưu phiền
Chất lượng thì giảm,mà tiền chi tăng !
Làng Hóp 15-10-2013 T.D
*thí dụ : giáo dục là "quốc sách hàng đầu"...
*thí dụ : giáo dục là "quốc sách hàng đầu"...
NGHE HÁT DÂN CA
NGHE HÁT DÂN CA
(rút trong tập Cõi Yêu – nxb VH 2013)
Nghe em hát khúc dân ca
Tôi rưng rưng nỗi nhớ nhà,nhớ quê
Nhớ con sông,nhớ bờ đê
Nhớ người cắt cỏ tóc thề áo nâu...
Bây giờ em ở nơi đâu
Để tôi tìm mãi trong câu : “Người về...” !
Làng Hóp
mùa xuân 2012 .T.D
Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013
TRANG NHẶT BÊN ĐƯỜNG SÓNG
Bao nhiêu cảm động và một điều muốn ói
1.BAO NHIÊU CẢM ĐỘNG
Và bao nhiêu cảm động
Dân lập bàn thờ
Dân Quảng Bình chưa khi nào tự nguyện chào đón ai đông đến thế này. Dân
ở Thanh Hóa, Vinh, Hà Tĩnh đổ về, dân Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị trào ra.
Toàn tỉnh Quảng Binh các nhà khách đều chật cứng. Khách từ xa về phải ở
trọ nhà dân. Rõ là lịch sử có một không hai
Còn có những cựu chiến binh cụt chân đứng chờ đón Đại tướng suốt ngày
nay. Còn cả vạn vạn người dân trào ra đường đón Đại tướng thì dù chương
trình truyền hình trực tiếp bị hạn chế, chị băm vụn cũng chẳng ai có thể
ngăn được lòng tôn kính của dân đối với Đại tướng.Chớ có đố kị nhỏ
nhen, dân biết hết đấy, bàn tay không che nổi mặt trời đâu!
2.VÀ MỘT ĐIỀU MUỐN ÓI !
2.VÀ MỘT ĐIỀU MUỐN ÓI !
Tay Hoàng Quang Thuận đã kịp mò ra Vũng Chủa nhảy lên ti vi đọc thơ rồi.Thật tởm!
Người Quảng Bình vẫn còn những kẻ tởm lợm như thế này đây
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





















