Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

ĐỜI NÊN THƠ NHẤT


ĐỜI NÊN THƠ NHẤT...
( NHÂN NGÀY THÀNH LẬP HỘI PNVN 20/10)

MÙA HÈ MÁT NHẤT AO SEN
ĐỜI NÊN THƠ NHẤT LÚC EM DỊU DÀNG

LÀNG HÓP 18-10-2013 THANH DẠ

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

GIỜ BIẾT NHỚ AI ?

 
TIẾNG ĐÀN CÔ BÉ TRONG TRANH.
HÒA CÙNG TIẾNG NƯỚC LONG LANH SÔNG NGÒI. 
NHÌN TRANH LÒNG NHỮNG U HOÀI . 
NHỚ AI ? AI NHỚ? NHỚ AI HỠI LÒNG ?

BÀI TRÊN TRANG BẠN : BÙI THỊ SƠN (NGƯỜI LAI-CHÂU GỐC HẢI-DƯƠNG)


Thứ bảy, ngày 12 tháng mười năm 2013

“ DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI” THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT NGƯỜI…

 


ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY:

DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI
Thơ: Phạm Trung Dũng
(Kính tặng Hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp -
Người anh hùng dân tộc ).
Dòng sông ấy hình thành không định trước
Trời không mưa, không nước vẫn thành sông
 
Dòng người đi lặng lẽ sóng trong lòng
Đường Hoàng Diệu cây nghiêng bóng lặng.
Hoa tang trắng. Ngập trời hoa tang trắng!
Cả hoa vàng, hoa đỏ, với cờ sao . . .
Tiễn đưa ông - gìm nước mắt trào
Kiêu hãnh - tự hào nâng ta đứng dậy.
Đi cho năm Châu nhìn thấy
Lòng dân nước Việt ơn ông
Một tài năng lỗi lạc vô song
Một nhân cách sáng ngời không tì vết.
Đi để hồi sinh cái chết
Ngàn năm bất diệt tấm gương trong
Cho những ai ăn ở hai lòng
Nhìn mà ngẫm: Luật đời nhân quả.
Tài năng lớn, tầm nhìn khác lạ
Ông trở về như Lá giữa quê hương
Đất Quảng Bình cát trắng, hàng dương
Sóng biển, chim ca, lòng dân . . . ru ông ngủ.
Trong dòng người tiễn Ông con nhìn thấy đủ:
Cụ già, em bé, bà mẹ, bác công nhân . . .
Nhiều người đi bằng xe lăn
Nhiều người Huân chương ngực đỏ
Cho con gọi Dòng sông người đó:
DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI !
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

BÀI BÌNH CỦA BÙI THỊ SƠN

 “ DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI” THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT NGƯỜI…

Mùa thu cách đây bốn mươi tư năm trước, Bác Hồ kính yêu của nhân dân ta: “…đã lên đường theo tổ tiên/ Mác- Lê nin thế giới người hiền”trong nỗi tiếc thương vô hạn của nhân loại “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa “ (Tố Hữu).Và mùa thu năm nay- ngay sau những ngày bão lũ bịt bùng vây bủa, gây bao đau thương tang tóc cho đồng bào Miền Trung, Người học trò xuất sắc của Bác Hồ- Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã  vĩnh viễn ra đi để lại trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới niềm đớn đau, nhớ tiếc khôn nguôi…Dẫu biết rằng ai rồi cũng sẽ đi về phương ấy, dẫu biết rằng Đại tướng đã bước qua cái tuổi  “ Xưa nay hiếm” hơn ba chục năm  như thế là trường thọ lắm rồi, mà sao khi được tin Người mất, ai cũng cảm thấy đường đột, bàng hoàng, hẫng hụt đớn đau như không tin nổi vào tai mắt mình nữa? Ròng rã gần tuần lễ, dòng người nườm nượp đổ về số nhà 30 Hoàng Diệu viếng Người ….Hòa mình trong người kéo dài tưởng như vô tận đó có Cựụ trí thức Phạm Trung Dũng- một bloggerquen thuộc của làng blogtiengviet.net.
Ngay khi hay tin  Đại tướng mất, anh đã xúc động thốt lên:
“Ngôi sao ấy đã băng rồi
Mà sao tôi thấy mặt trời giữa đêm”
Câu lục bát hàm ngôn giàu hình tượng ấy có sức lay động con tim khối óc của  bao người đọc về một vầng “Mặt Trời” không bao giờ tắt trong lòng nhân loại. Ba lần đến viếng Người là ba lần anh hòa dòng nước mắt của mình trong dòng nước mắt của hàng chục ngàn người khóc thương Bác.  Đọc “ dòng sông lương tri”, ta nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào, nức nở của muôn triệu con người trước sự ra đi của một vị tướng đã trở thành huyền thoại và niềm kiêu hãnh vô bờ của con dân đất Việt.
Nhan đề bài thơ giản dị mà rất hình tượng, độc đáo. Hòa mình trong dòng người từ muôn nẻo đến viếng Đại tướng, anh tưởng tượng đó là “dòng sông lương tri”- dòng sông của những con người có khả năng hiểu biết đúng đắn điều phải trái, đúng sai trong thực tiễn cuộc sống- dòng sông của những con người yêu kính, cảm phục ,tự hào, tiếc thương Bác Võ Nguyên Giáp vô bờ…
“ Dòng sông ấy hình thành không định trước
Trời không mưa, không nước vẫn thành sông
 
Dòng người đi lặng lẽ sóng trong lòng
Đường Hoàng Diệu cây nghiêng bóng lặng”
Vâng ! Ngày Bác Giáp mất là một ngày nắng đẹp ! Và dòng sông ấy là sự thôi thúc tự trong tâm, là  tiếng gọi của trái tim tìm đến với trái tim.Phải chăng nơi dòng sông lặng nhất chính là nơi nước sâu lắng nhất , trong veo nhất? Không khoa trương, ồn ào, náo nhiệt, từ con người đến cảnh vật cứ âm thầm lặng lẽ tiễn đưa Bác Giáp…Ở xa không về viếng Đại tướng được, đọc đến đây, tôi cảm thấy mình như được hòa mình trong” dòng sông lương tri “ ấy với nỗi đau chung lớn lao ấy, được “ mặt trời giữa đêm” ấy sưởi ấm, soi dọi…để mình không trở thành người lạc lõng, thờ ơ trước nỗi đau nhân tình thế thái…
Tác giả đã nhìn thấy những gì trong “ dòng sông lương tri” ấy?
“Hoa tang trắng. Ngập trời hoa tang trắng!
Cả hoa vàng, hoa đỏ, với cờ sao . . .
Tiễn đưa ông - gìm nước mắt trào
Kiêu hãnh - tự hào nâng ta đứng dậy.”
“Hoa tang trắng” điệp ngữ ấy được nhắc đi nhắc lại hai lần trong một câu thơ khiến độc giả không chỉ hình dung ra số lượng, màu sắc chủ đạo của  dòng người đến viếng Bác mà còn nhấn mạnh tình cảm vô tư trong sáng của lương tri nhân loại  trước một con Người suốt đời sống thanh bạch, xứng đáng với chữ “ Người” viết hoa.
Hai sắc hoa  vàng, đỏ  hòa trong” ngập trời” sắc trắng kia, ngoài nghĩa đen ra, còn mang nghĩa bóng là màu của lá cờ đỏ sao vàng cách mạng, là máu đào của biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì hòa bình, độc lập tự do của dân tộc. Chính vì mục tiêu thiêng liêng cao cả ấy  mà Bác Võ Nguyên Giaps đã trọn đời quên mình cho Tổ quốc. Trước  nghĩa cả cao đẹp của Người, mọi  nỗi đau thương mất mát dường như được mọi người  ghìm nén lại, nhường chỗ cho  niềm” kiêu hãnh, tự hào nâng ta đứng dậy”. Sự vĩ đại của Bác Võ Nguyên Giaps  chính là ở chỗ vẻ đẹp trong tâm hồn, trí tuệ, nhân cách của Người đã trở thành bất tử, có sức lan tỏa rộng lớn trong lòng muôn dân, khiến mọi người xích lại gần nhau hơn trong “dòng sông lương tri” đang  trải dài vô tận…Suốt từ đêm 4/10 đến nay, bao người quên ăn, quên ngủ , lặng lẽ hòa vào” dòng sông lương tri” đến vĩnh biệt Người.Dọc đường Hoàng Diệu, có bao người tình nguyện đem cơm hộp, đem sữa đến cho đồng bào dùng tạm qua cơn đói khát, lấy sức  cùng nhau thức trắng đêm để lần cuối được chiêm ngưỡng , tri ân vị tướng huyền thoại có lòng nhân ái bao la…
Nếu ở khổ thơ đầu, “dòng sông” người ấy “hình thành không định trước” mà chỉ là sự thôi thúc tự tình cảm kính yêu, thương tiếc Bác Giáp vô sbờ  thì đến khổ thơ thứ ba, thứ tư sự hòa mình trong “ dòng sông lương tri” ấy đã có sự suy ngẫm sâu sắc của lí trí:
“Đi cho năm Châu nhìn thấy
Lòng dân nước Việt ơn ông
Một tài năng lỗi lạc vô song
Một nhân cách sáng ngời không tì vết.
Đi để hồi sinh cái chết
Ngàn năm bất diệt tấm gương trong
Cho những ai ăn ở hai lòng
Nhìn mà ngẫm:  Luật đời nhân quả”
Đọc đến câu “ Cho những ai ăn ở hai lòng…” tim tôi như quặn thắt,! Dẫu “ những ai”  ấy chỉ là số ít, nhưng vẫn đau lòng lắm ! Liệu “ những ai” đó có thời gian lắng nghe tâm nguyện của muôn dân mà thức tỉnh lương tri? Với tầm vóc của một nhân cách lớn, Bác Võ Nguyên Giáp  giành thời gian, trí tuệ, tình cảm đau nỗi đau lớn lao của dân tộc: chiến tranh kết thúc lâu rồi nhưng nhân dân ta vẫn còn nhiều người đói khổ lắm…
Chợt nhớ lại cách đây 3 năm, trong bài thơ “ Mùa Vu Lan mừng tướng Giáp vừa tròn trăm tuổi” (in trong tập thơ “ Trai rừng- NXB Văn Hóa, 2011), Bùi Thị Sơn viết:
“Trở về sau hai cuộc chiến tranh
Người vẫn luôn trọn nghĩa, vẹn tình
Bình dị quên mình cho Tổ quốc
Cho nhân dân- một Đại gia đình.
Người chọn cho mình khoảng lặng im
Như cây cổ thụ giữa đại ngàn
Lặng lẽ dâng cho đời bóng mát
Nhận về mình: Bỏng rát, chói chang...”
Càng cảm phục chữ “ Tâm”. Chữ“ Nhẫn”trong cốt cách của một vị Thánh hiền, bao dung, cao cả mà gần gũi, thân thương giản dị xiết bao!
 Từ cảm xúc mãnh liệt của con tim đến ngẫm suy biện chứng của lí trí, Phạm Trung Dũng đã truyền  đến độc giả  thông điệp về một vị tướng vĩ  đại  khi “trở về như Lá giữa quê hương”. Cuộc đời sắc sắc không không, Người đi vào cõi vĩnh hằng nhẹ nhàng thanh thản như một Tiên Ông trong thần thoại:
“Đất Quảng Bình cát trắng, hàng dương
Sóng biển, chim ca, lòng dân . . . ru ông ngủ”
Câu thơ thiền đẹp và ung dung, tự tại như phong thái tự tin, không vướng bận bụi trần của một Vị Thánh làm tôi rưng rưng liên tưởng đến hình ảnh vua  Trần Nhân Tông- vị vua anh minh, quyết đoán, giàu lòng nhân ái đời Trần qua  những câu thơ của Nhà báo- Nhà thơ- Đạo diễn Điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn:
“ Như có hẹn tự bao kiếp bao đời
Người bôn ba chốn thị phi, nơi trận mạc
Rồi trở về với bóng trăng cô tịch
Để ngàn năm lưu lại một rừng thương…”
(Trích trong bài thơ “Về Yên Tử nhớ vua Phật”)
Ghìm nén niềm xúc động trào dâng,  với trái tim nhạy cảm được chiếu sáng bằng  lương tri người cầm bút, Phạm Trung Dũng  giành những giây phút thiêng liêng hiếm hoi bên Người để quan sát, miêu tả , lắng trong cảm xúc của muôn người  đủ mọi thành phần , lứa tuổi  đến viếng Bác: từ cụ già , em bé đến bà mẹ, bác công nhân…;có “ nhiều người đi bằng xe lăn”; có “ nhiều người Huân chương ngực đỏ”…Tác giả thốt lên nh ững lời tự trong tim như muốn nói cùng Bác ước nguyện của mình:
“Cho con gọi Dòng sông người đó:
DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI”
“Dòng sông lương tri” ! Tứ thơ mở màn và khép lại thật Đẹp mà ngân vọng mãi dư ba…
Tâm nguyện của Phạm Trung Dũng, anh linh  Bác  chắc nghe thấú…Cám ơn tác giả  đã nói hộ niềm tiếc thương và nhớ ơn  vô hạn của muôn người đối với vị tướng tài ba lỗi lạc của thế giới và vô cùng yêu nước, thương dân.
“ Dòng sông lương tri” là  một trong những bài thơ đặc sắc của cộng đồng dân cư mạng viết về vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giap mà tôi được đọc trong những ngày tang lễ đau thương của cả dân tộc và toàn nhân loại .
Bài thơ viết theo thể tự do nên dễ dàng  chuyển tải các cung bậc tình cảm của tác giả đến độc giả. Đó là tấm lòng của muôn triệu con tim hướng về nơi một trong những “con Người đẹp nhất” đã bay về với” Mác Lênin- thế giới người hiền”.
Bằng  biện pháp tu từ ẩn dụ xuyên suốt bài thơ, với nhịp điệu thơ mang nhạc  tính cao,lúc trải dài êm ả, lúc trùng điệp cuộn dâng như sóng… “ dòng sông lương tri” là một hình tượng thơ độc đáo, sáng tạo rất riêng của Phạm Trung Dũng. Hòa nhịp đập chung của muôn triệu trái tim, anh đã  dâng  tặng Người một đóa thơ Đẹp. Tôi rất tâm đắc với cảm nhận của Nguyễn Duệ Mai- một blogger trên  cộng đồng blogtiengviet.net:

“Dòng sông cuộn chảy âm thầm
Có chung nguồn cội từ TÂM mỗi người”


Tôi xin mượn lời nhà thơ Chử Thu Hằng để  kết thúc bài viết này:
“ DÒNG SÔNG LƯƠNG TRI” mấy chục vạn người là chữ dùng” đắt” và sáng tạo của anh ( Phạm Trung Dũng). Cuộc đời Đại tướng là minh chứng cho câu “ Lửa thử Vàng”. Sự ra đi của Đại tướng và lòng yêu kính, tiếc thương vô hạn của nhân dân đã khẳng định niềm tin của chúng ta vào những giá trị đích thực, vĩnh hằng của cuộc sống.
                                                   Lai Châu, ngày 12/10/2013.

                                                             Bùi Thị Sơn

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

TẮC ĐƯỜNG NGẪU HỨNG


TẮC ĐƯỜNG NGẪU HỨNG
 


Đi đâu cũng bị tắc đường
Chắc là phải lội qua mương mà về !

Mênh mông lũ,lụt bốn bề
Chẳng còn thấy dấu con đê chỗ nào !

Nhớ câu tục ngữ,ca dao
Muốn đến chỗ nào ; cứ hỏi ốc* sên !

Làng Hóp 16-10-2013 T.D
* “ốc đi bằng miệng” (tục ngữ Vn)

TẠ ANH NGÔI NÊN HỌC TẬP


Cận cảnh nhà Dương Chí Dũng tặng 'bồ nhí' Cận cảnh nhà Dương Chí Dũng tặng 'bồ nhí'Hai căn hộ được Dương Chí Dũng chi tiền cho bà P.T.Th là người có con riêng với mình đều là các căn chung cư cao cấp, có vị trí đắc địa. Đầu tiên là căn hộ 2901, tháp B, toàn nhà SkyCity, 88 Láng Hạ, Hà Nội.




Mỗi căn hộ ở đây được trang bị tiện nghi cực kỳ cao cấp, có giá từ 3-5 tỷ đồng. Phía trên cao ốc là bể bơi rất đẳng cấp.

BÀI CHÉP TỪ BLOG QUÊ CHOA

Tướng Giáp và hậu duệ: Chuyện bây giờ mới kể

Gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu)
Đằng sau ánh hào quang của chiến trận oai hùng, người ta vẫn gặp một “anh Văn” rất thương vợ, yêu con. Con cháu tướng Giáp đều là những người giỏi giang.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu với bà Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà yêu nước Nguyễn Thị Minh Khai) năm 1934. Bà Quang Thái trở thành liệt sỹ và để lại một người con gái là Võ Hồng Anh.
 


Bà Võ Hồng Anh được phong học hàm Giáo sư. Bà công tác tại nhiều Viện, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, được mời thỉnh giảng, trao đổi nghiên cứu, dự hội nghị khoa học ở nhiều quốc gia.
Năm 1946, đại tướng Võ Nguyên Giáp tái hôn với giáo sư Đặng Bích Hà, con gái của giáo sư Đặng Thai Mai. 

Hai người con gái là Võ Hòa Bình (SN 1951) và Võ Hạnh Phúc (1952), từng là Ủy viên Hội đồng quản trị Tập đoàn HIPT. Người con trai trưởng Võ Điện Biên (1954), hiện là Giám đốc Công ty CP Đông Sơn. Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), hiện là Giám đốc Công ty CP Máy tính Truyền thông Hồng Nam.

Hai đời vợ và 5 người con

Xuất thân là một giáo viên dạy sử, nhà báo, ông trở thành một chính trị gia và tướng lĩnh quân sự nổi bật trong lịch sử Việt Nam với các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu với bà Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà yêu nước Nguyễn Thị Minh Khai) năm 1934. Bà Quang Thái trở thành liệt sỹ và để lại một người con gái là Võ Hồng Anh.

Mẹ mất, bà Anh sống với ông bà nội mãi đến năm 1946 mới gặp lại cha, bấy giờ là là một lãnh đạo cao cấp. Toàn quốc kháng chiến nổ ra, chiến sự lan dần đến Quảng Bình, bà được bà nội đưa đi sơ tán tại Thanh Chương, Nghệ An. 

Năm 1951, bà được gặp lại cha lần thứ hai. Sau đó, bà được chính phủ bố trí đưa sang học tại Quế Lân và Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc.

Năm 1954, bà được đưa sang Liên Xô theo học Trường Thiếu nhi Việt Nam Internat Moskva. Năm 1959, bà tốt nghiệp Phổ thông với Huy chương vàng. 

Sau đó, bà theo học ngành Vật lý lý thuyết lượng tử, Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov Moskva. Bà tốt nghiệp năm 1965 với bằng đỏ (hạng ưu).

Tốt nghiệp, bà về nước và được phân công làm cán bộ nghiên cứu thuộc Ban Toán – Lý, Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước rồi sang Liên Xô bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Toán – Lý rồi làm việc tại Viện Liên hợp Nghiên cứu hạt nhân Quốc tế Dubna và được phong học hàm Giáo sư.
Năm 1987, bà về nước kinh qua nhiều vị trí tại các viện, trung tâm năng lượng, vật lý. Giáo sư Võ Hồng Anh qua đời vào năm 2009 vì bệnh tật.

Trong suốt gần 40 làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, bà được mời thỉnh giảng, trao đổi nghiên cứu, dự hội nghị khoa học ở: Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, các nước Đông Âu, Ý, Ấn Độ, Thái Lan, Malaisia…

Bà cũng đã cho xuất bản trên 50 công trình khoa học được công bố, phần lớn ở nước ngoài, trong số đó có cuốn sách về Lý thuyết tương tác của bức xạ cường độ mạnh lên chất rắn – xuất bản ở Nga. Năm 1988, bà là người phụ nữ đầu tiên của ngành Vật lý được tặng Giải thưởng Khoa học Quốc tế Kovalevskaia – giải thưởng cao nhất của Việt Nam về khoa học kỹ thuật dành cho các nhà khoa học nữ. 

Võ Nguyên Giáp, gia đình
Đại gia đình của Đại tướng tại sở chỉ huy Mường Phăng, ngày 19.4.2004 (ảnh Nguyễn Đình Toán)

 Bà Anh nhiều lần kể chuyện về cha mình, những kỉ niệm từ lúc ấu thơ đến những ngày cuối đời. Lúc nào bà cũng ghi khắc hình ảnh của một người cha hiền lành, nhất mực yêu thương con gái. 

Năm 1946, đại tướng Võ Nguyên Giáp tái hôn với giáo sư Đặng Bích Hà, con gái của giáo sư Đặng Thai Mai. Ông bà có 4 người con, 2 gái và 2 trai, tất cả đều giỏi giang và thành đạt. 

Hai người con gái là Võ Hòa Bình (SN1951) và Võ Hạnh Phúc (1952), hiện là Ủy viên Hội đồng quản trị Tập đoàn HIPT. 

Người con trai trưởng của đại tướng được ông đặt tên Võ Điện Biên (1954), hiện là Giám đốc Công ty CP Đông Sơn. 

Con trai út là Võ Hồng Nam (1956), hiện là Giám đốc Công ty CP Máy tính Truyền thông Hồng Nam.

Một gia đình ngưỡng vọng

Không chỉ là một vị tướng tài danh, đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là người ông, người cha hết lòng vì con cháu, sống giản dị và gần gũi với mọi người. 

Bà Mạc Thúy Hường – con dâu Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vợ cậu con trai út Võ Hồng Nam – khóc khi chia sẻ: “Tôi gần gũi với ba Giáp còn hơn bố đẻ vì bố tôi mất từ trước khi tôi lấy chồng. Tôi sống với ba đã hơn 30 năm. Ba là người rất tuyệt vời, yêu vợ và các con, các cháu. Với tôi, ba luôn coi như con gái”.

Võ Nguyên Giáp, gia đình

Người con dâu nghẹn ngào nói rằng bà thường xuyên chăm chút khu vườn vì ba Giáp thích cây cối, chim muông: “Tôi trồng cây, làm hồ cá, chăm sóc phong lan… nhưng giờ ba đâu còn để ngắm nữa”, bà Hường nghẹn lời.

Tướng Giáp luôn đặt tên con cháu theo ước vọng về đất nước. Người con trai Võ Điện Biên được lấy tên theo sự kiện lịch sử 1954. Hai con gái Võ Hòa Bình, Võ Hạnh Phúc thể hiện mơ ước về ngày hạnh phúc của đất nước. Người con út Võ Hồng Nam là niềm mong ước một miền Nam rực cờ hồng.
Hai con của Võ Hồng Nam được đặt tên là Võ Hoài Nam – nhớ mong miền Nam và Võ Thành Trung như lời thề nguyền tận trung với nước. Hoài Nam và Thành Trung được cha dạy võ từ năm 3 tuổi theo truyền thống con nhà võ nên khi lớn lên đều trở thành những thanh niên cường tráng.

Sinh thời, tướng Giáp luôn canh cánh tâm nguyện giúp đỡ con em các vùng chiến khu nghèo khó. Con cháu ông, đặc biệt là con út Võ Hồng Nam, thường làm từ thiện âm thầm không trống giong cờ mở, với sự giúp đỡ của bạn bè doanh nghiệp. 

Ông Tấn Định, gọi tướng Giáp bằng cậu, kể Đại tướng là người vĩ đại khi ra ngoài xã hội nhưng trong gia đình lại rất tự nhiên, gần gũi và tình cảm như một người ông, người bác bình thường,rất quan tâm đến chuyện trường lớp của các cháu. Ông Định ra ở cùng tướng Giáp khi đã vào quân ngũ. Mỗi lần gặp cháu, tướng Giáp lại ân cần hỏi han chuyện đơn vị, vợ con.

“Ông là một người lính thực thụ, luôn đề cao kỷ luật quân đội. Tuy nhiên với con cháu, ông có cách dạy rất nhẹ nhàng. Chưa bao giờ thấy ông nặng lời quát mắng, chỉ nghiêm mặt nói là tất cả đã nghe theo răm rắp”, ông Định nhớ lại.

Tướng Giáp còn là người nặng tình, nặng nghĩa. Trong nhà ông trưng bày rất nhiều kỷ vật về bà Quang Thái – người vợ đầu đã hy sinh – để nhắc nhở các thành viên gia đình không được quên bà.
Ngày 27/7, giỗ, tết là dịp cả gia đình cùng tưởng nhớ bà Quang Thái. Khi vẫn còn đi lại được, tướng Giáp thường cùng người vợ sau là phó giáo sư Bích Hà lên nghĩa trang Mai Dịch, bất kể nắng mưa, để nhổ cỏ, lau mộ, thắp hương cho bà Thái.

Trong hồi ký của mình, ông Tấn Định miêu tả một lần gia đình tướng Giáp thăm lại nơi giam giữ bà Quang Thái: “Hằng năm, cứ vào tiết thanh minh là cả nhà lại cùng cậu tôi lên Nghĩa trang Mai Dịch viếng mộ người thân, trong đó có mộ mợ Quang Thái… 

Lần này, cậu tôi muốn thăm Nhà lao Hỏa Lò trước khi viếng mộ ở Mai Dịch… Cậu tôi đề nghị tất cả cùng chụp ảnh kỷ niệm ngay tại khoảnh sân dưới chân Đài tưởng niệm… Sau ít phút, chúng tôi đã có mặt trước cửa phòng biệt giam các nữ tù chính trị. 

Theo lời giới thiệu của chị Dơn (hướng dẫn viên) thì mợ Quang Thái từng bị giam cầm tại căn phòng này… Trong lúc mợ Hà đang lúng túng cài những bông hồng đỏ lên khe nhỏ của các cánh cửa sắt, cậu tôi vẫn đứng im phăng phắc, mắt dõi nhìn về phía bệ xi măng bên trong phòng biệt giam như đang kiếm tìm một bóng hình thân thuộc…”.

Ông Định viết tiếp: “Cậu tôi đứng đó, tay phải vịn lên mép cửa sổ của cánh cửa sắt, tay trái cậu như đang lần tìm thứ gì ở trong túi của áo khoác ngoài. Tôi đoán là cậu đang tìm chiếc khăn mùi xoa mà trước khi lên xe mợ Hà đã cẩn thận đặt vào đó, và cuối cùng tôi đã tìm được chiếc khăn ở túi áo bên kia đặt vào tay cậu. Cậu tôi cầm lấy chiếc khăn, rồi từ từ đưa lên thấm khô những giọt nước mắt vừa trào ra từ đôi mắt già nua đang nhòe ướt… Bỗng cậu tôi đứng thẳng người lên, bỏ chiếc mũ len xuống cầm tay, và đầu hơi cúi xuống. Tất cả không ai bảo ai đều tề chỉnh đứng nghiêm và cúi đầu tưởng niệm. Chị Hồng Anh quay sang định nói gì đó với cậu tôi, nhưng mãi chị không nói được thành lời”…

Còn nhiều chứng nhân khác nói về đại tướng. Những câu chuyện dài và xúc động. Tất cả đều bật lên một con người hiền lành, giàu tình cảm. Đại tướng đã ra đi, nhưng ông kịp để lại cho đời lớp hậu duệ đáng để người ta kính phục, ngưỡng vọng.

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

BÀI TRÊN TRANG HÀNG XÓM,LÁNG GIỀNG

Biểu tượng dân tộc: Niềm tin và giá trị

Nguyễn Trung Kiên
Ở Việt Nam, chúng ta đang ở vào một thời buổi loạn giá trị, thiếu chân giá trị định hướng. Cái sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991 là đòn giáng mạnh vào hệ giá trị mà những người đảng viên Cộng sản đang theo đuổi.  Hình ảnh người bố nghe đài, bỏ đôi đũa xuống, đôi mắt nhìn xa xăm và trống trải mà đứa bạn tôi kể còn in đậm trong tâm trí tôi, làm tôi tin rằng, họ đã bị mất một chỗ dựa quan trọng cho chân giá trị của mình. Rồi những người dân ngày nay, đằng sau những vất vả mưu sinh, họ lại dần dần bị tước mất niềm tin vào tập thể, bởi những tham nhũng, nhiêu khê trong bộ máy hành chính, hay những gian lận trong giáo dục, những  dối trá trong y tế, hay sự thiếu hụt của các trợ cấp và an ninh xã hội v.v. Tất cả xói mòn niềm tin của dân chúng. Tất cả đẩy dân chúng vào cái nhìn bi quan đối với con người, với xã hội. Tất cả đặt họ vào tình huống phải tự tìm cho mình một chân giá trị để tin tưởng, để đi theo.

Và giới trẻ như chúng tôi lớn lên trong cái thời ‘quá độ’ – cái thời mà chúng ta đã rời bến này nhưng còn lênh đênh, phiêu dạt ở đâu đó trên con sông lịch sử, để rồi chưa biết khi nào thì đến được một bến bờ nào rõ ràng và hạnh phúc. Với lớp trẻ, khi những lớp người đi trước lúng túng trong định hướng chân giá trị cho chính bản thân họ,  thì chúng tôi cũng rơi vào một mớ hỗn độn và mơ hồ những giá trị thật giả, đúng sai hoặc nửa sai nửa đúng. Cũng có người may mắn tìm được giá trị đúng đắn để sống cuộc đời có ý nghĩa, những cũng có người thì bỏ mặc cho dòng đời xô đẩy hoặc bị dẫn dắt bởi người khác, có người trở nên chán nản, đau khổ, và cũng có người lựa chọn sống cuộc sống tiêu cực ngoài vòng pháp luật. Không có gì lạ khi mà những vụ giết người, cướp của, hiếp dâm, lừa đảo, buôn bán thuốc phiện, hút chích đang trở nên phổ biến trong  xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Cũng có người may mắn được đi học ở nước ngoài và đã, đang tiếp thu những giá trị mới. Nhưng cũng có người an phận sống cho riêng mình, cũng có người quay sang chê bai, chửi bới, châm biếm, đả kích những ‘căn bệnh’ đang tồn tại trong đất nước và dân tộc của họ. Nhưng số quay lại đóng góp cho đất nước, vì dân tộc thì không hề nhiều. Đừng quá trách chúng tôi! Chúng tôi đang loạn giá trị, loạn niềm tin và chúng tôi đang tìm kiếm câu trả lời: Tin cái gì? Chọn cái gì? Theo cái gì? Sống thế nào? là những câu hỏi thể hiện sự rối loạn định hướng giá trị của đa số tuổi trẻ chúng tôi. Mà tuổi trẻ loạn thì nguyên nhân gốc rễ chính là từ xã hội loạn.
***
Chúng ta thường nói đến từ ‘dân tộc’, ‘tính dân tộc’, ‘tinh thần dân tộc’, ‘lòng yêu nước’, hay những từ ‘to lớn’ khác, nhưng ít khi chúng ta cảm nhận được nó. Có ai bảo ta rằng: Mày sống vì nhân dân, vì dân tộc một tí! Chắc mình sẽ bảo sao mày nói gì to tát thế! Quả thực, dân tộc, với tư cách là một tập thể, một nhóm rất lớn, hiện diện rất mông lung và xa vời trong đời sống thường nhật. Cũng như ta hay hỏi: nhân dân làm chủ, nhưng nhân dân là ai? là tất cả, nhưng cũng chẳng là ai cả? Dân tộc cũng là tất cả, nhưng cũng chẳng là ai, bởi vì nó là một tập thể không có ranh giới và hình thù rõ ràng. Nó chỉ hiện diện hết sức vô hình và thường bị những chuyện đời sống nhỏ nhặt, từ vợ chồng, con cái, tới tiền nong, chợ búa, cho tới những thứ to tát hơn như sự nghiệp, công danh, quyền lực, địa vị lấn át và chi phối. Cũng có thể, cái tinh thần tập thể đó bị phủ mờ hay bị khoá chặt bên trong bởi những cảm xúc hay kinh nghiệm cá nhân đối với tập thể, nó tạo thành cảm giác rằng bản thân mình hoặc tách rời tập thể, hoặc chán ghét cái tập thể đó. Và khi tự cho mình nằm ngoài cái tập thể đó, làm sao có thể xuất hiện ý chí tập thể? Do đó, nếu không có một biến cố lịch sử hay một sự kiện chính trị – xã hội nào đó có tầm quan trọng to lớn, đặt mọi người trên một mẫu số chung, thì sẽ chẳng hy vọng nào kéo từng cá nhân thoát ra khỏi vòng xoắn của những âu lo đời thường để quan tâm tới những gì vĩ đại cho cả cộng đồng.
Tôi đã từng cảm nhận được, một vài lần khi tinh thần dân tộc xuất hiện và hiện hữu. Đó là lúc cảm xúc gia tăng đột biến, trào dâng, làm cho bản thân hầu như bị chi phối bởi sức mạnh to lớn nào đó, một tinh thần dám vượt qua những nông cạn và nhỏ nhặt cá nhân, để khiến mình làm gì cũng được, kể cả phải chết. Một lần là lần đầu tiên tôi dự cuộc diễu hành nhân ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 2005. Lúc đó tôi chứng kiến hàng dài những người lính diễu binh, bước đi trong tiếng nhạc oai hùng. Và vây quanh tôi, cả đám đông như nín thở chào đón họ. Một lần là khi tôi và đám bạn hoà vào dòng người cổ vũ, ăn mừng cho chiến thắng của đội bóng đá Việt Nam vô địch Đông Nam Á năm 2008. Khi đó, dường như tất cả mọi người chia sẻ một tinh thần chung, là vui sướng, là tự hào, rồi để là gắn kết giữa những người cùng chung một dân tộc. Lúc đó, cá nhân sẵn sàng làm những chuyện vĩ đại, vượt qua sức mình vì tập thể.
***
kimma2-9173-1381629806
Và đây, cái chết của Tướng Giáp không đơn giản chỉ là cái chết của một con người, đúng hơn, nó là cái chết của một con người mang đầy giá trị: giá trị của lịch sử, giá trị của dân tộc, giá trị của lòng yêu nước và bản lĩnh người Việt.  Mà các giá trị chân chính khi đã được tập hợp lại bên trong một con người, nó đủ sáng để biến người đó trở thành biểu tưởng. Nói không ngoa, Tướng Giáp là một biểu tượng rực sáng. Một biểu tượng chuyên chở những giá trị cho phép số đông dân chúng tin tưởng, sống chết vì nó. Một biểu tượng có thể khơi gợi được sợi dây vô hình nối liền những cá nhân rời rạc và ích kỷ, và biến họ thành một khối thống nhất, chia sẻ chung cảm xúc, suy nghĩ, ý chí và hành động. Lịch sử dân tộc Việt Nam, dĩ nhiên đã từng trải qua những thời khắc mà cả dân tộc cùng chung một ý chí. Có lẽ rõ ràng nhất là trong những thời khắc chiến tranh như khi nhà Trần vận động dân chúng tổ chức vườn không nhà trống chống quân Mông Cổ, hay khi huy động người dân góp sức tải lương thực và vũ khí cho chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 hay tinh thần tất cả vì miền Nam những năm thống nhất đất nước. Nhưng trong thời buổi hoà bình mà tạo ra được sự gắn kết tập thể như trong chiến tranh, đó chỉ có thể sinh ra từ những sự kiện đặc biệt, hoặc từ những biểu tượng đặc biệt.
Dai-tuong-o-Vung-Chua-2-1-9988-1381668287
Một tuần vừa trôi qua là một tuần ‘vĩ đại’ theo nghĩa nó đặc biệt hơn mọi tuần khác trong một năm, thậm chí đặc biệt trong cả thế kỷ. Khi mà cái chết của vị tướng anh hùng đã tạo nên một ‘cơn sóng thần’ những tin tức dồn dập xuất hiện trên mạng Internet. Dòng thông tin khổng lồ sinh ra, lưu chuyển liên tục đó, xuất phát từ mọi hình thức, từ báo chí mạng, từ chính thức đến phi chính thức, tới các trang mạng xã hội và các trang web và blog cá nhân, xuất phát từ mọi cấp độ, từ cá nhân tới các nhóm xã hội và tới từ đa phần các tầng lớp trong xã hội. Tướng Giáp qua đời đã dấy lên một ‘cơn bão’ dư luận xã hội: họ tìm kiếm, họ đọc, họ nghe, rồi họ viết, họ chia sẻ, họ trải lòng, họ bàn luận, họ đánh giá, họ suy ngẫm… Tất cả những hành động đấy đều xoay quanh con người và cuộc đời của vị Tổng tư lệnh ‘lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu’.  Nếu Internet như một cỗ máy phát sóng kết nối tất cả những cá nhân riêng lẻ từ khắp các chiều không gian và thời gian, thì Tướng Giáp là cốt lõi tinh thần để vận hành cái máy đó. Một tuần qua, có cảm giác các tầng lớp xã hội như những người dân làng đang quây quần quanh một cái bếp lửa hồng để trò chuyện về sự ra đi của một già làng như thể đó là chuyện duy nhất có ý nghĩa trong thời gian này.
Và đặc biệt hơn là chuyện những người dân đổ về Hà Nội, rồi lại dồn về ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu để thắp nén nhang, kính viếng người tướng đã ra đi. Và hôm nay là chuyện những người dân từ khắp nơi đổ ra đường Hà Nội để đưa tiễn vị tướng ấy về nơi chôn rau cắt rốn của ông và những người dân khắp nơi về Quảng Bình để mong dự cái giờ phút cuối cùng của Đại tướng trước khi ông về với cát bụi. Tôi cảm thấy ngạc nhiên và sung sướng! Dù tôi không được dự vào dòng người đến viếng và tiễn đưa Tướng Giáp, nhưng qua những bài viết trên mạng Internet, tôi cũng có thể cảm nhận được cái tinh thần ấy, cái cảm giác ấy, trong những khoảnh khắc ấy. Cái cảm giác mà có vẻ như cuộc sống bon chen, cơm áo gạo tiền đầy cuốn hút, vội vàng và ích kỷ - cái mà cuốn tất cả mọi người vào một vòng xoáy đầy toan tính cá nhân – đã nhường chỗ cho một điều thiêng liêng hơn mang tính cộng đồng rõ rệt. Có những người bạn tôi cảm giác rằng họ chẳng bao giờ quan tâm đến những chuyện lớn lao của đất nước nhưng nay họ là những người trăn trở đi viếng.  Có những bạn trẻ mà tôi nghĩ họ thích nhạc trẻ hay nhảy hiphop hơn là chuyện chính trị, nhưng các bạn đã xếp hàng trong dòng người nối dài như bất tận vào viếng hay tiễn đưa Đại tướng. Tóm lại, cái đám đông xuất hiện hướng về vị tướng đó – già có, trẻ có, nam có, nữ có, ca sĩ có, nhạc sĩ có, nhà văn có, nhà báo có, tướng lĩnh có, nông dân có, người Kinh có, người dân tộc thiểu số có, ở xa có, ở gần có, nghèo có, giàu có v.v. – như một hình ảnh thu nhỏ của một dân tộc.
xuanthuy3-2546-1381636385
Mấy năm nay, Tướng Giáp vẫn sống, nhưng ai cũng biết ông đã rất già, rất yếu và có thể ra đi bất cứ lúc nào. Cái gì quý giá, nhưng chúng ta biết chúng ta đang có nó, chúng ta cũng dễ quên đi, hoặc ít để ý. Con cá sống trong nước cũng không biết nước quan trọng thế nào đối với nó. Người ta sống dựa vào không khí, nhưng ít khi cảm nhận hay nhớ về nó.  Và rồi, chúng ta cứ an tâm rằng Tướng Giáp đang sống – và có khi chúng ta đã lãng quên ông – chỉ đến khi cái chết thực sự đã đến với ông, để cho chúng ta thấy giá trị của ông quan trọng như thế nào đối với dân tộc Việt Nam. Chỉ đến lúc đó, chúng ta mới nhận ra rõ ràng rằng, cái biểu tượng giá trị mà chúng ta cần cho sự phát triển của đất nước này là cần thiết như thế nào. Chỉ đến lúc đó, những con người cá nhân, ích kỷ chúng ta mới chợt thấy khắc khoải, bồi hồi, tiếc nuối, nhớ thương một biểu tượng giá trị đã mất đi. Và thực sự, cái chết của Tướng Giáp là một thử nghiệm lịch sử, cho thấy rằng té ra tinh thần dân tộc Việt Nam nó không bao giờ chết, nó chỉ ẩn đi trong màu áo cuộc sống tầm thường và sẽ trỗi dậy khi thời cơ tới.
langbac-3329-1381634167
Có người nói đó là dấu hiệu đánh dấu sự kết thúc của một thời đại. Câu nói buồn man mác, song cũng có lý! Nhưng dù tranh luận như thế nào đi nữa thì dân tộc Việt Nam cũng cần có những con người tiếp bước những thế hệ như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, để tạo nên những biểu tượng giá trị mới cho dân tộc tin theo. Đúng! Chúng ta thay vì than thở, hãy đi xây dựng biểu tượng giá trị của thời đại mới!